hot Về việc đăng ký thành viên

hot Thông tin Việc Làm Khách Sạn lương cao

hot Hỗ trợ đăng bài PR MIỄN PHÍ


Thảo Quả

Thảo luận trong 'Ẩm thực'

Ads

Chia sẻ trang này

  1. ctybepchien12

    ctybepchien12 Nhân viên thử việc

    Tham gia ngày:
    22/3/14
    Bài viết:
    192
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    18
    Giới tính:
    Nam
    THẢO QUẢ
    Trái khô sẽ ngả màu xám nâu nhạt, nhiều nếp nhăn dọc và thường phủ một lớp phấn trắng. khi nào dùng mới bóc vỏ ngoài lấy hạt, nếu bóc ngay sẽ mất mùi thơm. Bộ phận dùng: Trái.
    Bào chế:

    Dùng cám hòa với nước sôi cho dẻo, bọc thảo quả rồi nướng, bỏ xác và xơ trắng ở bên trong đi, để dành dùng.
    Dùng bột mì trộn với nước sôi cho dẻo, bọc thảo quả nướng chín, bỏ vỏ lấy nhân dùng.
    Thành phần hóa học:
    Trong thảo quả có tinh dầu chừng 1 – 3%. Tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm, ngọt, vị nóng cay, dễ chịu.
    [​IMG]
    Tác dụng dược lý:

    - Nước sắc 0,25 – 0,75% của thảo quả có tác dụng hưng phấn ruột cô lập của động vật thí nghiệm.
    Một số cách dùng thảo quả:

    Trị sốt rét: Thảo quả nhân 4g, thục phụ tử 10g, sinh khương 3 lát, đại táo 3 quả, sắc uống.
    Trị bụng đau, bụng đầy do hàn thấp tích trệ: thảo quả (nướng) 6g, hậu phác, hoắc hương đều 10g, thanh bì, bán hạ, thần khúc đều 6g, cao lương khương 6g, đinh hương, cam thảo đều 4g, sinh khương, đại táo 10gm sắc uống.
    Trị sốt rét: Thảo quả nhân 2g, tán bột, bọc trong miếng gạc, trước khi lên cơn, nhét vào một bên lỗ mũi.
    Trị tiêu hóa rối loạn do ăn uống, không tiêu, tích thực, gây vùng thượng vị đầy đau: Thảo quả (nướng) 6g, thương truật, hậu phác, trần bì, sinh khương đều 10g, cam thảo 4g, đại táo 3 quả, sắc uống.
    Trị miệng hôi: Thảo quả giã dập, ngậm nuốt dần.
    Trị sốt rét, tiêu chảy: Thảo quả 10g, kha tử 10g, gừng sống bảy lát, táo đen bảy trái, nước 300ml. sắc còn 200ml, chia ba lần uống trong ngày.
    Thảo quả dùng với Tri Mẫu trị chứng hàn nhiệt ngược. Hai vị thuốc một âm một dương nên không có hạ do thiên thắng. thảo quả trị hàn ở thái âm, tri mẫu trị hỏa ở dương minh.
    Thảo quả và Đậu Khấu, nhiều sách đều ghi là khí vị tương đồng, có tác dụng chỉ khát, ôn vị, khứ hàn. Thuốc có khí vị phù tàn, do đó, bị chứng chướng ngược, dùng thuốc đều có hiệu quả.
    Thảo quả vị cay, tính ôn táo, thiên về trừ hàn thấp mà ôn táo trung cung cho nên Thảo quả là vị thuốc chủ yếu để trừ hàn thấp ở tỳ vị. ở vùng rừng núi, khí độc sương mù đều là loại âm thấp tà, dễ làm tổn thương chính khí, muốn trừ khí độc phải dùng loại ôn táo, phương hướng để thẳng âm, thắp trọc.
    Thảo quả và thảo đậu khấu có điểm khác nhau: Ngày nay, tỉnh Phúc Kiến trồng đậu khấu to như quả nhãn, nhưng hơi dài, vỏ vàng nhạt, mỏng mà những cạnh nhô lên, nhân ở trông giống như hột sa nhân, có mùi cay, thơm, gọi là thảo đậu khấu. tỉnh Vân Nam trồng thảo quả, to như trái kha tử, vỏ đen dầy, các đường gân liền nhau, nhân bên trong thô và cay hắc, bốc lên giống mùi con Ban miêu.
    Thảo quả chủ yếu trị về hàn thấp khí uất, sốt rét do chướng khí, dịch khí. Thảo đậu khấu chủ yếu trị về vị suy, nôn mửa, ngực đầy, bụng đau, đụng đầy.
    Nguồn: http://setupnhahang.bepchien.com/Thao-qua
     

Chia sẻ trang này

Tags: No tags Edit Tags

Bài viết giới thiệu: "Thảo Quả"